• Quất hồng bì giải cảm, chữa ho
Theo Đông y, lá Quất
hòng bì vị cay, đắng, tính bình, có tác dụng giải thử (cảm nắng), cảm cúm, hạ
sốt, long đờm và giảm ho. Qủa vị chua, tính bình, hơi ấm, có tác dụng giảm ho,
long đờm, kích thích tiêu hóa và cầm nôn mửa.
Quất hồng bì còn gọi là
Hoàng bì, Quất bì (dễ nhầm với Quất làm cảnh). Tên khoa học: Clausena lansium
(Lour) Skeels, thuộc họ cam quýt. Đây là loại cây thân gỗ, cao khoảng 3 đến 5m,
thường mọc hoặc trồng từ Hà Tĩnh trở ra Bắc, tới miền Nam Trung Quốc. Bộ phận
làm thuốc gồm: quả (được bổ dọc, phơi khô được gọi là quất bì hay hồng bì); hạt
của quả chín phơi khô, lá, vỏ rễ phơi khô.
Một số thí nghiệm cho
thấy, cao chiết từ lá hồng bì có tác dụng chống co thắt trên hồi tràng chuột
nhờ hoạt chất lasimit; kìm hãm một vài chủng ký sinh trùng sốt rét và diệt ký
sinh trùng đường ruột. Ngoài ra, cao khô chiết xuất bằng methanol có tác dụng
kháng khuẩn: tụ cầu vàng (Staphylococus aureus) và vi khuẩn đường ruột E. coli.
Có thử nghiệm lâm sàng đã chứng minh quất hồng bì điều trị các chứng bệnh lỵ
amips, trực trùng (phói hợp với khổ luyện tử, hòe hoa) cho kết quả tốt hơn tân
dược (ganidan, tetracyclin).
Y học cổ truyền dùng
nhiều bộ phận của quất hồng bì làm thuốc. Hạt và vỏ rễ cây bị đắng, cay, tính
ấm, có tác dụng giảm đau và lợi tiêu hóa. Dân gian thường dùng nó trị đau dạ
dày, đau thượng vị hoặc do co thắt ống tiêu hóa, phụ nữ sau đẻ. Lá quất hồng bì
được dùng trong các chứng cảm mạo, sốt, hỗ trợ điều trị sốt rét, gội đầu để
sạch gàu, trơn tóc. Qủa dùng cho người tiêu hóa kém, buồn nôn, ho kéo dài (nếu
ho cấp tính do nhiễm trùng, cần phối hợp kháng sinh; nếu ho do lao thì phải
điều trị thuốc chuyên khoa).
Để kích thích tiêu hóa
và phòng bệnh cho phụ nữ sau đẻ, có thể lấy vỏ thân hoặc rễ quất hồng bì 30g,
rễ sử quân 20g, quả khế chua 20g. Các vị sao vàng, sắc đặc, chia uống nhiều lần
trong ngày. Có thể dùng trong nhiều ngày.
Nhận xét
Đăng nhận xét